Vùng đất cố đô Huế từ lâu đã trở thành điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước nhờ bề dày lịch sử và văn hóa ấn tượng. Với vị trí địa lý đặc biệt, gần như nằm chính giữa đất nước, Huế trở thành thánh địa giao thoa giữa 2 nền văn hóa Nam, Bắc. Nhắc đến Huế là nhắc đến thủ phủ của triều đại phong kiến cuối cùng, nơi lưu trữ những dấu tích cố xưa về chế độ quân chủ của nhà Nguyễn. Thế nhưng Huế còn hơn cả một cố đô. Thành phố Huế nép mình bên dòng sông Hương, ẩn khuất sau những ngôi thành cổ, những lăng tẩm huyền bí và chỉ phô diễn vẻ đẹp mộng mơ, cuốn hút trước những người thực sự “cảm” được văn hóa và con người nơi đây…

 

Huế – thánh địa văn hóa và lịch sử dân tộc

Kinh thành Huế đóng vai trò là thủ đô của hoàng gia Việt Nam trong suốt 143 năm, cho đến tận năm 1945, khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị. Có thể nói, Huế lưu giữ những kỷ vật gợi nhớ về một bản hòa tấu có bổng có trầm trong lịch sử nước nhà, và vì vậy tự hình thành trong nó những nét văn hóa riêng biệt không nơi nào có được, thể hiện qua những địa danh nổi tiếng nơi đây.

Đại nội Huế

Đây là công trình kiến trúc gắn liền với lịch sử triều đại vua chúa nhà Nguyễn, Đại nội là trung tâm hành chính, chính trị của triều đình, là nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia. Đại Nội Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1993. Đến nơi đây, bạn sẽ được sống lại một thời lịch sử đã qua đi. Không thể phủ nhận được không gian cổ kính, vẻ đẹp trang trọng của Đại Nội là một trong những điểm thu hút các du khách khi đến tham quan nơi đây.

Những ai yêu thích kiến trúc cung đình cũng sẽ được thỏa mãn bởi những công trình nổi bật thuộc Đại nội như Cổng Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, Thái Bình Lâu, Điện Cần Chánh cùng các đền, điện, miếu thờ,…

Chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ được mệnh danh là ngôi chùa có kiến trúc đẹp nhất ở Huế. Dù được xây dựng từ thế kỉ 17 nhưng chùa vẫn luôn được tu chỉnh trang tráng lệ và huy hoàng, thu hút nhiều du khách gần xa đến thăm quan. Tìm đến không gian yên tĩnh này, bạn có thể tĩnh tâm chiêm bái bên tiếng chuông ngân cũng như vãn cảnh thành phố và lặng ngắm dòng sông Hương chảy trôi lững lờ.

Khu lăng mộ cổ của hoàng đế triều Nguyễn

Khác với hình tượng những ngôi mộ cổ trong phim truyện, những lăng tẩm của các hoàng đế triều Nguyễn có vẻ đẹp cố xưa với nghệ thuật chạm trổ và điêu khắc tinh xảo. Hai ngôi mộ nổi tiếng nhất với du khách phải kể đến lăng mộ của vua Tự Đức (17/69 Lê Ngô Cát, Thủy Xuân, Huế) và lăng Khải Định (Khải Định, Thủy Bằng, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế).

Trong khi Tự Đức là vị vua nổi tiếng hơn của triều Nguyễn với thời gian trị vì dài nhất, thì vua Khải Định lại ít phổ biến hơn so với các nhân vật lịch sử đương thời như Phan Chu Trinh. Hai ngôi mộ mang phong cách kiến trúc khác nhau, minh họa cho tính cách của chính các hoàng đế.

Vịnh Lăng Cô

Lăng Cô có vị trí địa lý nằm giữa 3 trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới là: Cố đô Huế, Khu phố cổ Hội An và Khu Thánh địa Mỹ Sơn với bán kính là 70 km. Lăng Cô có thể thu hút khách tham quan, nghiên cứu tại các trung tâm trên và giải tỏa áp lực những thời điểm đông khách. Năm 2009, vịnh Lăng Cô được Worldbays bình chọn là “Vịnh biển đẹp nhất thế giới”, một danh hiệu không hề hoa mỹ dành cho vẻ đẹp của thắng cảnh nổi tiếng này.

Bên cạnh đó, bãi biển Lăng Cô cũng lọt vào danh sách các khu du lịch quốc gia Việt Nam, với bãi cát trắng dài tới hơn 10 km, làn n­ước biển trong xanh bao la tuyệt đẹp, bên cạnh đó là những cánh rừng nhiệt đới rộng lớn trên những dãy núi nhấp nhô, nằm giữa núi rừng và biển là đầm Lập An rộng lớn (800 ha) đầy huyền bí.

Núi Bạch Mã

Bạch Mã – dãy núi được xem là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng. Dãy Bạch Mã cách Huế 60km về phía Nam và thuộc địa phận của vườn quốc gia Bạch Mã. Với độ cao 1.450m, đây cũng là địa điểm thu hút lượng lớn khách du lịch đến thăm và nghỉ dưỡng.

Không chỉ nổi tiếng bởi những con suối và ngọn thác ngoạn mục như thác Đỗ Quyên, thác Bạc, đến thăm Bạch Mã, bạn như được sống trong khu rừng nguyên sinh với thế giới tự nhiên vô cùng đa dạng và phong phú. Có thể nói Bạch Mã là một trong những danh lam thắng cảnh ở Huế thuộc top đầu những lựa chọn lý tưởng cho các chuyến đi picnic của các bạn trẻ.

 

Thiên đường ẩm thực và văn hóa xứ Huế

Đặc sản

Bún bò Huế

Đặc sản nổi tiếng nhất ở Huế phải kể đến bún bò. Bún bò Huế không phải ở Huế mới ăn được, nhưng thưởng thức món ăn ở nơi bắt nguồn của nó cũng là một trải nghiệm không tệ phải không nào?

Một bát bún bò Huế chắc chắn sẽ không thể thiếu được một khoanh giò heo cùng thịt ba chỉ và bắp bò. Bún được ăn kèm với các loại gia vị như mắm ruốc; tỏi, ớt chanh tạo nên hương vị đúng điệu của Huế; nhẹ nhàng mà quyến rũ.

Cơm hến/ Bún hến

Có một thực tế mà không phải ai cũng biết: Cơm hến ngon nhất chỉ có thể ăn ở Huế. Cơm hến Huế tuy là món ăn dân dã có khắp mọi nơi dù ở thôn xóm hay đường quê, nghèo mà vẫn sang, đậm đà hương vị. Món ăn này được làm từ cơm trắng nấu chín và để nguội. Người ta cho phần thịt hến cùng các phụ gia, thêm tóp mỡ được chiên giòn. Cơm hến có thêm chút mắm ruốc Huế vừa bùi, chát, cay và hăng, được ăn kèm với phụ gia là rau sống gồm có: rau sống, bắp chuối, giá đỗ và ít thân khoai môn trắng thái nhỏ. Lạc được rang vàng và phi dầu vàng cho có màu đẹp mắt.

Một suất cơm Hến vào một ngày mùa đông chắc chắn sẽ là trải nghiệm vô cùng tuyệt vời cho bạn và người thân khi tới Huế!

Bánh canh Nam Phổ

Bánh canh Nam Phổ là món ăn cung đình Huế mang hương vị đặc trưng của vùng miền. Bánh có màu sắc đẹp mắt, nồi nước lèo ngọt lịm với cua tôm, sợi canh trong suốt mềm mượt không hề bị nát, đây sẽ là món ăn tuyệt vời bạn nên thưởng thức khi đến Huế.

Không chỉ thu hút bởi hương vị, tô bánh canh thật hấp dẫn với màu trắng của bánh xen lẫn nhân tôm thịt và màu xanh mướt của hành lá. Khi dùng, bạn nhớ trộn thêm chút nước mắm ớt xanh, vài cọng hành ngò. Hương vị đậm đà của tôm thịt cùng hành ngò hòa quyện cùng sợi bánh canh tạo nên sự đặc sắc cho món ăn đặc sản này.

Mè xửng

Mè xửng là loại quà quê dân dã, cũng là nỗi niềm nhung nhớ của người con xứ Huế mỗi khi xa quê. Vị dai dai, không quá ngọt mà ăn mãi cũng không chán. Tên của loại đồ ăn vặt này là sự kết hợp giữa mè (vừng) và xững (cách hoán đường), tạo nên cái tên vừa quen vừa lạ thu hút thực khách thập phương. Ngoài vừng thì bánh đa, mạch nha hay đậu phộng cũng là 1 trong những thành phần không thể thiếu của mè vừng. Với vị ngọt và dẻo dai của đường kết hợp với đậu phộng, mùi thơm của vừng khiến người ăn ăn vào nhớ mãi.

Đây cũng là một trong những đặc sản dùng để làm quà rất phù hợp, vừa mang chút hương vị cố đô, vừa thể hiện được tình cảm chân thành, giản dị của người tặng.

Tré Huế

Tré là món ăn đại diện cho sự riêng biệt của ẩm thực Huế, bởi chỉ ở Huế bạn mới có thể tìm và thưởng thức được món ăn đậm đà từ da và thịt đầu lợn này.

Da phải được thái mỏng một cách đều đặn, để được một lượng ché nhất định đủ dùng cho cả gia đình, công đoạn thái da thành từng lát mỏng là công phu và vất vả nhất, tiếp đó khâu thái riềng thành sợi nhỏ và mỏng, thái riềng cũng cần độ tỉ mỹ, tính kiên trì cao.

Gia vị cũng rất đa dạng nào là nước mắm kho, ớt trái, ớt bột, tỏi, mè rang, củ riềng thái sợi và không thể thiếu thính gạo hoặc thính nếp rang. Chính vì thành phần gia vị đặc biệt và lạ lẫm như vậy cho nên tré Huế cũng có một hương vị đặc trưng mà không một món ăn nào có được.

Vả trộn

Cây vả rất phổ biến ở Huế, có lẽ người ta trồng nó phần nhiều vì thói quen hơn là giá trị kinh tế. Trái vả và trái sung hoàn toàn giống nhau về hình dáng cấu tạo: vỏ xanh – thịt trắng – lòng hồng, tuy trái và lá sung đều nhỏ hơn vả. Cả trái sung lẫn vả đều ăn được nhưng vị của sung hơi chát, còn vị vả béo, bùi và thơm ngon hơn. Từ trái vả các bà nội trợ cố đô chế biến nhiều món ăn và để làm thuốc hỗ trợ chữa bệnh.

Trước đây, vả trộn thường được chế biến trong các bữa tiệc gia đình hay vào dịp tết, ngày lễ. Ngày nay du khách đến Huế có thể thưởng thức món vả trộn phổ biến mọi lúc mọi nơi. Có thể gọi vả trộn để ăn bất kỳ lúc nào có nhu cầu, hiện nay người Huế có thói quen dùng vả trộn đưa cay cho chầu nhậu lai rai lúc chiều xuống.

Cho vả đã thái mỏng và bóp tơi vào xoong rồi cho thịt, da heo, tôm, mè, đậu phộng vào trộn đều. Khi cho ra đĩa đem trưng ra bàn thì trang trí thêm rau thơm Huế, rau ngò (mùi), đậu phộng giã dập, mè… trên bề mặt cho bắt mắt. Người Huế không dùng đũa muỗng mà thường bẻ bánh tráng mè đã nướng vàng giòn để xúc vả trộn.

 

Trái cây

Vả

Có lẽ Huế là nơi duy nhất trồng cây vả với diện tích nhiều đến thế, bởi hỏi đến những du khách nước ngoài thứ thiệt từ Mỹ, châu Âu, châu Phi đều nhận được câu trả lời là chưa bao giờ thấy loại quả như vậy!

Cây vả ra quả chủ yếu từ tháng 12 năm trước đến tháng 7 năm sau. Tuy nhiên, vào những khoảng thời gian khác của năm, cây vẫn ra quả bình thường nhưng chỉ là không được nhiều bằng chính vụ. Nhìn thoáng qua, quả vả có hình dạng trông giống quả sung nhưng to hơn một chút. Khi còn non, quả có màu xanh mượt, lông mịn, cầm khá thích tay. Bên trong quả vả có một lớp gồm những hạt trắng nhìn như hạt cơm – đó cũng chính là phần người dân cố đô dùng để chế biến những món đặc sản tại Huế.

Quả vả không chỉ được dùng trong các món ăn đặc sản của người dân cố đô như nem lụi, bánh khoái, hến xúc bánh tráng… mà còn là vị thuốc quý trong các bài thuốc đông y cổ truyền, có tác dụng thanh lọc, giải nhiệt cơ thể.

Dâu Truồi

Truồi là một địa danh thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế – địa danh cũng đã từng đi vào ca dao Việt Nam:

Núi Truồi ai đắp nên cao,
Sông Gianh ai bới, ai đào nên sâu

Dâu Truồi ngon ngọt từ xưa, ai ăn một lần nhớ mãi không quên. Chẳng ai biết loại dâu này có mặt ở xứ Truồi từ đâu, khi nào và cũng không ai biết quả dâu này từng được gọi là dâu tiên. Dâu Truồi to chỉ bằng đầu ngón tay cái của người lớn, ấy vậy mà cái vị ngọt thanh từ múi dâu trắng đục, mọng nước, hạt dẹp.

Quả dâu thường được dùng làm quà để đi thăm người thân ở xa, học trò trong xứ cũng thường dùng dâu để biếu thầy cô giáo dịp hè. Ngoài ra, quả dâu còn là lễ vật cúng gia tiên của người dân xứ Truồi trong dịp tết Đoan Ngọ. Có một điều đặc biệt nữa là nếu dịp lễ ăn hỏi của nhà trai và nhà gái trúng vào mùa dâu chín thì quả dâu sẽ được chọn làm lễ vật với ý nghĩa độc đáo. Nếu nhà trai ở làng Truồi đi hỏi vợ làng khác thì người ta mang theo lễ vật, trong đó có một khay dâu chín để biếu nhà gái nhằm mong muốn chọn được cô dâu hiền thảo. Nếu như nhà trai ở nơi khác tới làng Truồi hỏi vợ thì nhà gái chọn những quả dâu có chấm son để mời họ hàng nhà trai với ý nghĩa là chọn những của ngon nhất để mời khách.

 

Nông sản

Gạo Phú Hồ

Thương hiệu gạo Phú Hồ được hình thành từ ý tưởng nâng tầm giá trị hạt gạo làng của HTX NN Phú Hồ, nhằm đưa hạt gạo Phú Hồ vươn tầm quốc tế. Trên diện tích 600 ha, Phú Hồ dành riêng 150 ha để sản xuất lúa chất lượng cao. Năm 2016, sản lượng lúa của xã ước đạt hơn 8.000 tấn, riêng lúa chất lượng cao đạt 2.100 tấn.

Gạo Phú Hồ nhìn qua không có nhiều đặc biệt, giá cả phải chăng nhưng ăn vào vẫn ngon và thơm không kém các loại gạo cao cấp của Thái Lan, Ấn Độ. Vừa qua, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng công nhận gạo Phú Hồ đạt chứng nhận OCOP 3 sao, đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong nước và hướng đến xuất khẩu số lượng lớn trong tương lai.

Mật ong ruồi Nam Đông

Với đặc thù miền núi, huyện Nam Đông có gần 7 nghìn ha rừng tự nhiên, có nhiều loại cây quý hiếm như: Bồ kết, Bồ công anh, Trinh nữ, Chân chim, Chạc Chìu… Đây là điều kiện thuận lợi để đàn ong sinh sống và cho trữ lượng mật cao. Trên cơ sở đó, từ năm 2015 từ nguồn vốn chương trình nông thôn mới, Hội nông dân huyện đã xây dựng mô hình thí điểm tại 4 hộ, với 40 đàn Ong giống nội, thu hoạch 500kg mật, giá trị khoảng 120 triệu đồng.

Từ bước đầu thành công, năm 2017 Hội nông dân huyện tiếp tục nhân rộng ra 8 hộ nuôi, với 80 đàn, sản lượng đạt 800kg mật. Nhằm bảo hộ đặc sản của địa phương, tránh sự lạm dụng và giả mạo sản phẩm, được sự hổ trợ của các cơ quan chuyện môn, sản phẩm Mật ong ruồi Nam Đông đã được công nhận thương hiệu.

Làng nghề truyền thống

Nghề đan lát Bao La

Cách thành phố Huế 15km về phía Bắc, đoạn trung lưu bờ Bắc con sông Bồ, làng Bao La thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền là một làng nghề đan lát truyền thống nổi tiếng. Làng nghề được hình thành từ xa xưa và đến thời chúa Nguyễn đã thành lập thêm một làng Bao La mới, nay thuộc thôn Thủy Lập, xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, cạnh bờ Nam phá Tam Giang.

Mỗi xóm trong làng sản xuất một loại sản phẩm khác nhau: Xóm Chợ chuyên sản xuất giần, sàng; Xóm Đông chuyên sản xuất thúng, mủng; Xóm Chùa chuyên sản xuất rá; Xóm Đình và Xóm Hóp chuyên sản xuất rổ; Xóm Cầu chuyên sản xuất nong, nia. Mỗi xóm một loại mặt hàng, cả làng đều làm và đều vui.

Dân nghề đan lát Bao La đang nỗ lực hết mình và không ngừng cải tiến kỹ thuật mới để cung cấp cho thị trường những sản phẩm thủ công chất lượng cao, tinh xảo hơn và để đưa làng nghề tiếp tục phát triển.

Nghề đan nón lá

Nhắc tới con người Huế, những cô gái Huế, không thể không nhắc đến chiến nón lá trắng tinh, dịu dàng e ấp bên tà áo dài tím. Có lẽ vì vậy mà nghề nón lá đã phát triển rực rỡ nơi đây, với rất nhiều làng nón nổi tiếng như: Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long, Sịa… Ngày nay, các làng nghề nổi tiếng như Tây Hồ Xã Phú Hồ, Mỹ Lam xã Phú Mỹ huyện Phú vang, Phú Cam, Phước Vĩnh, Đốc Sơ, Triều Tây, Hương Sơ, TP Huế cho ra thị trường hàng triệu chiếc nón, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân, mà còn là món quà lưu niệm đặc sắc cho du khách bốn phương khi đến Huế.

Làng nghề đúc đồng

Nghề đúc đồng là nghề truyền thống của dân tộc ta nói chung và người Huế nói riêng. Ở Huế, nói đến đúc đồng người ta sẽ liên tưởng ngay đến phường Đúc – cái tên đủ gợi lên chuyên môn của làng. Nghề đúc đã được hình thành và phát triển qua nhiều đời con cháu nơi đây, sản phẩm của các nghệ nhân phường Đúc có mặt khắp nơi trong Đại nội Huế, các ngôi chùa, đền, miếu khắp tỉnh Thừa Thiên Huế, góp phần không nhỏ lưu giữ những truyền thống và cội nguồn văn hóa dân tộc.

Làng nghề gốm Phước Tích

Làng gốm Phước Tích thuộc Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.  Các sản phẩm truyền thống độc đáo của Phước Tích như: lu, chum, ghè, thạp, thống, om, bùng binh, tu huýt.
Làng nghề này cũng đã xuất hiện từ rất lâu đời, suốt từ đời Minh Mạng đến đời Khải Định, hàng tháng làng phải dâng nộp triều đình Huế 30 chiếc “om ngự” làm nồi nấu cơm cho vua. Hiện Phước Tích còn gọi là làng cổ, đến đây du khách không chỉ tìm hiểu làng ghề nơi đây mà còn được tham quan những ngôi nhà cổ và các di tích để lại. Sản phẩm của làng không chỉ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất hiện trang trọng trong những tiệc trà ở Nhật Bản.

Tranh làng Sình

Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phù Vang, cách thành phố Huế khoảng 8km về phía hạ lưu sông Hương. Do vị trí sát kề đế đô lại thuận tiện giao thông, có nhiều người buôn bán và làm thủ công, trong đó có nghề làm tranh thờ in ván khắc gỗ. Nghề in tranh cũng nhờ vậy mà phát triển thịnh vượng và mang màu sắc riêng.

Tranh Sình là tranh thờ, có các bộ: Tranh cúng bổn mệnh, tranh cúng gia tiên, tranh ảnh cúng thế mạng, tranh lễ thành cúng cho người mang bầu, tranh cúng cho con nít…Tất cả chừng trên năm mươi tờ có đề tài khác nhau. Tất cả những tranh trên đều phản ánh tín ngưỡng cổ sơ, là sự lưu ảnh của tư tưởng Việt cổ trước một thiên nhiên hoang sơ thần bí và linh dị…

 

Kết

Huế là thành phố cổ kính nhưng không kém phần dân dã, là điểm du lịch lý tưởng cho những người yêu thích lịch sử và văn hóa của các triều đại Việt Nam. Nếu bạn đang tìm kiếm một nơi giao thoa giữa truyền thống và di sản, thì Huế chính là lựa chọn phù hợp nhất. Với sự kết hợp giữa sự hoài niệm hoàng tộc và hương vị cho sự tinh tế hiện đại, Huế mời gọi tất cả những ai đang háo hức bước vào qua cổng Đại nội lấp lánh.