Sử gia Phan Huy Chú từng một lần nhận xét về Thanh Hóa như sau: “Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh (…). Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa họp tụ lại nảy ra nhiều văn nho…” Nếu cần một cái nhìn khách quan từ một học giả người nước ngoài, chúng ta có H. Le Breton – một nhà văn người Pháp với cuốn sách có tựa đề “Tỉnh Thanh Hóa” của mình, trong đó ca ngợi mảnh đất này bằng những ngôn từ thật đẹp: nơi có thiên nhiên đẹp nhất, cũng như giàu kỷ niệm lịch sử hay truyền thuyết nhất Đông Dương. Nói vậy để thấy rằng, những tinh hoa văn hóa, nghệ thuật cùng những thành tựu của sông núi và con người Thanh Hóa đã, đang và sẽ chinh phục khách du lịch và học giả nghiên cứu về văn hóa, lịch sử của thế giới.

Xứ Thanh – một miền di sản văn hóa đặc sắc

Thanh Hóa có lợi thế là mảnh đất hội tụ nhiều dân tộc, nhiều lớp người và thành phần dân số, và chính họ đã xây dựng nền tảng và ngày càng phát triển nền văn hóa, di sản đặc sắc, đồ sộ. Do đặc thù về địa lý là cửa ngõ của miền Trung cũng như địa hình và đa dạng sinh thái, Thanh Hóa trở thành vùng đất mở, năng động, trung chuyển giữa các khu vực Đông – Tây, Bắc – Nam. Con người đã có mặt ở đây từ sớm, và đặc biệt nở rộ vào thời kỳ Đông Sơn với hệ thống di sản khảo cổ phong phú.

 

Đường bờ biển dài hơn 100 km cũng tạo cho Thanh Hóa hệ sinh thái và văn hóa biển độc đáo, ngư dân đã sớm học cách ngự trị biển cả và tạo ra các giá trị kinh tế từ biển. Đến nay, bãi biển Sầm Sơn là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất khu vực Trung Bộ, biến khu du lịch thành một trong những điểm mũi nhọn về phát triển kinh tế của tỉnh.

Có rất nhiều tộc người sinh sống tại Thanh Hóa, tuy nhiên chủ yếu là 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú, chiếm đến 81.7% dân số toàn tỉnh. Xứ Thanh cũng là mảnh đất có nền văn hóa vật thể và phi vật thể giá trị, điển hình có thể kể đến vườn quốc gia Pù Luông (Bá Thước), Bến En (Như Thanh); ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, các phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội, tri thức bản địa, sản phẩm nghề thủ công truyền thống phong phú và đa dạng…

Nơi tinh hoa ẩm thực dân tộc lên ngôi

Đặc sản

Nem chua

Nem chua là loại đặc sản nổi tiếng bậc nhất tại Thanh Hóa, và tuy không phải vùng duy nhất có nghề nhưng nem chua xứ Thanh luôn mang hương vị rất riêng và có phần “nổi trội” hơn cả. Nem chua có nhiều loại: nem dài, nem vuông, nem cối, nem nướng, nem thính… tùy mục đích và khẩu vị mà được làm theo các công thức và cách chế biến khác nhau. Nem chua chỉ gồm bì lợn thái chỉ, thịt mông nạc, thính gạo, gói cùng lá đinh lăng hoặc lá ổi bánh tẻ và các gia vị đặc trưng, để tạo ra một chiếc nem chua ngon đúng điệu cần phải có bí quyết gia truyền riêng.

 

Thường nem chua được ăn kèm với ớt cay. Vị ngọt của thịt heo hòa với vị chua thanh nhẹ, vị cay của ớt, tỏi, hương thơm bùi và cảm giác sần sật khi nhai… tất cả tạo thành sự thỏa mãn về vị giác say đắm lòng người.

Không chỉ là sản vật để người dân Thanh Hóa dù ở đâu cũng cảm nhận được hương vị quê nhà, nem chua còn là món quà dân dã thích hợp để biếu, tặng nhằm thể hiện tấm lòng người gửi dành cho người nhận.

 

Chả tôm

Một món ăn dân dã khác cũng rất phổ biến với khách du lịch đến Thanh Hóa là món chả tôm. Cách làm chả tôm không quá phức tạp, tuy nhiên người làm cần đặc biệt chú ý đến nguồn nguyên liệu. Tôm dùng để làm chả cần phải là những con chắc thịt, tươi ngon, không quá già hay quá non thì mới có được hương vị “chuẩn” Thanh Hóa.

Nhờ hương vị đặc sắc, Đài Truyền hình Việt Nam cũng đã có phóng sự tìm hiểu cách làm món ăn truyền thống xứ Thanh này, bạn có thể tìm xem video tại đây

 

Mắm cáy

Một loại gia vị hấp dẫn tại Thanh Hóa phải kể đến mắm cáy. Mắm được làm từ con cáy – tương tự con cua nhưng nhỏ hơn, được bắt về và sơ chế trước khi tách yếm ra rồi đem giã nhuyễn. Sau đó trộn với muối và ủ trong chum trong khoảng 10 ngày. Cuối cùng là cho thính gạo hòa với men gạo vào chum để khử bớt mùi cáy và tạo ra vị ngon đặc trưng. Mắm cáy đặc biệt rất thích hợp dùng để chấm rau luộc hay thịt luộc, với hương vị nồng nồng đặc trưng chắc chắn sẽ mang đến cho bạn và gia đình những trải nghiệm hết sức thú vị và ngon miệng.

 

Bánh gai Tứ Trụ

Bánh gai Tứ Trụ xuất xứ từ làng Mía thuộc hữu ngạn sông Chu, cách thị xã Thọ Xuân khoảng 9 km. Trước kia Bánh Gai Tứ Trụ chỉ xuất hiện trong các dịp lễ lễ lạt, ngày hội họp hay cúng tế, ngày này đã đường làm quanh năm để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Nguyên liệu chính làm bánh gồm có lá gai, gạo nếp, đậu xanh, vừng và dầu chuối. Bánh gai thường được ăn sau lúc bắt đầu hấp khoảng chừng 10 giờ.

Bánh gai thành phẩm thơm ngon, có vị dẻo thơm của gạo nếp và lá gai, mùi hương của dầu chuối, của vừng , vị ngọt của mía, mùi thơm bùi của đậu xanh, vị béo ngậy của thịt và mùi tự nhiên của lá chuối khô.

 

Trái cây

Bưởi tiến vua

Loại bưởi có nguồn gốc từ làng Luận Văn, xã Thọ Xương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tương truyền được cúng tiến vua thời Hậu Lê. Dù mới chỉ được khôi phục thời gian gần đây nhưng giống bưởi đỏ nơi đây rất đắt hàng mỗi dịp Tết đến, trở thành một loại quà Tết đặc sắc với giá thành không hề rẻ.

Theo các cụ già trong làng kể lại, xưa kia bưởi Luận Văn dùng để tiến cống vào cung cho vua và các quan lại, phi tần thưởng thức, còn ngày nay được ưa chuộng dùng để thờ cúng mỗi dịp lễ Tết. Màu đỏ của bưởi được cho là sẽ đem lại nhiều may mắn, thịnh vượng trong năm mới. Có một khoảng thời gian bưởi Luận Văn gần như mất giống, phải đến gần đây, nhờ nhận thấy giá trị kinh tế của loại bưởi tiến vua này nhân dân mới mở rộng và duy trì giống cây ăn quả quý hiếm này.

Hải sản

Phi Cầu Sài

Phi là loài hải sản sống ở vùng nước mặn và nước lợ, đặc biệt có nhiều ở bờ biển Cầu Sài, Thanh Hóa. Nếu bạn thấy thú vị bởi cái tên lạ của loài động vật này, thì bạn sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng đây cũng từng là một sản vật tiến vua của xứ Thanh.

Phi có hình dạng giống trai biển, ruột dày và trắng ngần. Phi thường sống dưới cát, và người đào phải bào con nước mới có thể tìm được loài vật này dưới lớp cát biển. Phi ở Cầu Sài được đánh giá là ngon và đậm vị nhất, có thể chế biển thành nhiều món khác nhau. Nếu muốn thưởng thức mùi vị tinh nguyên bạn cũng có thể ăn tái. Ngoài ra các món như nấu canh, rán khi kếp hợp cùng gia vị lại càng làm tăng mùi vị của phi. Đặc biệt quan trọng phi phải được ngâm sạch cát và chế biến sống thì món ăn mới được xem là đúng chuẩn ngon.

 

Làng nghề thủ công

Chiếu cói Nga Sơn

Chiếu cói Nga Sơn là loại chiếu được dệt tại huyện Nga Sơn, một huyện ven biển của tỉnh Thanh Hóa. Trước đây chỉ có một vài xã ở huyện Nga Sơn làm nghề trồng cói và dệt chiếu, nhưng dần dần nghề đã mở rộng ra gần như toàn bộ huyện nhờ lợi ích kinh tế mà nó mang lại.

Chiếu cói Nga Sơn từ lâu đã trở thành thương hiệu nổi bật của xứ Thanh. Chiếu cói Nga Sơn được nhiều người yêu thích bởi nó hoàn toàn là sản phẩm dệt thủ công, sợi chiếu nhỏ, mềm và óng mượt. Chiếu rất phong phú về kiểu dáng cũng như màu sắc trang trí lại gọn nhẹ và giá thành rất hợp lí. Hiện nay, chiếu cói Nga Sơn có mặt khắp nơi trong toàn quốc và được ưa chuộng ở một số quốc gia lân cận, giá trung bình của một chiếc chiếu Nga Sơn chất lượng tốt là 150.000 đồng đến 200.000 đồng.

 

Hương Đông Khê

Làng Đông Khê thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa lâu nay vẫn nổi tiếng bởi có nghề làm hương truyền thống. Hương Đông Khê được nhiều người biết đến, tiêu thụ cả trong và ngoài tỉnh. Điểm đặc biệt của làng nghề này là Đông Khê chỉ sản xuất hương trầm và chỉ làm hương thắp trong dịp Tết cổ truyền để thờ cúng ông bà tổ tiên. Bởi vậy mà mùi hương Đông Khê giống như mùi của Tết, của đoàn viên xum vầy. Hương Đông Khê được làm từ tăm hương (tre nứa), nhựa hương (nhựa cây trám) và thành phần phụ gia (than của các loại gỗ nhẹ như than cây xoan, cây muồng dại, than của tàu lá chuối khô, rễ của cây hương bài, hoa hòe, quế chi, trầm hương), mỗi nguyên liệu đều được lựa chọn tỉ mỉ, cẩn thận để đảm bảo hương có mùi thơm dịu nhẹ.

Về thăm làng hương Đông Khê du khách có thể bắt gặp hình ảnh những bó hương được phơi ở hầu hết các sân nhà hộ dân trong làng, mùi nhang khói phảng phất trong gió càng vào sâu trong làng mùi thơm càng đậm hơn. Cứ vào dịp cuối năm làng hương lại trở nên tất bật để có được những bó hương thơm ngát dâng lên bàn thờ tổ tiên vào mỗi dịp Tết đến, Xuân về. Nghề làm hương truyền thống phải trải qua rất nhiều công đoạn vất vả, giá thành lại không được bao nhiêu. Để gắn bó và duy trì cần cả một tấm lòng yêu quê hương, muốn gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân làng Đông Khê. Qua bàn tay khéo léo khi được kết hợp với những phương pháp gia truyền những nén hương được ra đời. Các sản phẩm của làng hương Đông Khê đều có độ bền, mùi thơm đặc trưng rất thanh khiết dễ chịu.

 

Đúc đồng Trà Đông

Làng Trà Đông, xưa kia gọi là Sơn Trang, tên nôm là Kẻ Chè, một vùng đất cổ cách tỉnh lỵ Thanh Hóa 12 km về phía Tây Bắc, nằm trong địa vực của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. 20 năm cuối thế kỷ XX, làng nghề đúc đồng Trà Đông trở nên sa sút vì hàng hóa không cạnh tranh được với các sản phẩm công nghiệp cùng loại. Tuy nhiên, nhờ tâm huyết của những nghệ nhân còn yêu nghề tiếc nghề, nghề đúc đồng Trà Đông dần được khôi phục. Các sản phẩm làm ra vẫn giữ được nét độc đáo, đặc trưng mà không nơi nào sánh được và mới đây, nghề đúc đồng làng Trà Đông đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Hiện nay, làng nghề đúc đồng truyền thống Trà Đông đang duy trì 25 lò đúc lớn. Làng có 4 nghệ nhân được Chủ tịch nước công nhận là nghệ nhân ưu tú. Các nghệ nhân này đã có công lớn trong việc phục dựng, làm sống lại và phát triển nghề đúc đồng cổ truyền.

Làng Trà Đông sản xuất ra nhiều sản phẩm như trống đồng, chiêng đồng, đồ thờ, lư hương…, trong đó tác phẩm Trống Đồng được coi là thế mạnh và độc đáo nhất. Thông thường đúc trống đồng một mặt đã khó nhưng năm 2012, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Bá Châu còn làm một việc khó hơn là đúc chiếc trống hai mặt.

 

Rượu Chi Nê

Rượu Chi Nê là đặc sản nổi tiếng nổi tiếng của làng Chi Nê, xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Với mùi vị đặc trưng mà không có bất kỳ loại rượu nấu theo phương thức cổ truyền nào có thể sánh kịp, rượu Chi nê đã được trao tặng huy chương vàng hàng Việt Nam chất lượng sản phẩm và dịch vụ cao, phù hợp tiêu chuẩn, vì sức khỏe cộng đồng. Có lẽ chính nhờ mùi vị thơm ngon, đậm đà được chắt lọc từ những gì tinh túy nhất của thiên nhiên mà rượu Chi Nê được Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thanh Hóa tặng bằng khen sản phẩm tiêu biểu xứ Thanh và đã trở thành một trong 5 sản vật quý của người dân xứ Thanh làm say đắm lòng người tứ xứ khi nghỉ chân lại mảnh đất nền này.

Theo nhiều gia đình ở xã Cầu Lộc cho thấy thêm, rượu Chi Nê đã sở hữu được mùi vị đặc biệt quan trọng là vì được sản xuất từ nguyên liệu gạo quê do chính người dân nơi đây trồng kết phù hợp với nguồn nước và men dùng để làm ủ rượu, thêm vào đó những bí quyết gia truyền của ông cha ta để lại. Nguồn nước để nấu rượu được lấy từ nguồn nước ngầm ở những làng Thiều Xá, Đông Thôn và Cầu Thôn trong xã. Đây là nguồn nước tinh khiết không có độc tố kết phù hợp với loại men gia truyền làm từ 36 vị thuốc do người dân nơi đây tự chế ra và quá trình chưng cất công phu và tỉ mỉ với những quy trình như nấu rượu, lên men… đã làm cho rượu có mùi thơm đặc biệt quan trọng, vị ngọt, cay riêng. Vì vậy rượu Chi Nê chỉ ngon khi nó do chính tay người Cầu Lộc nấu trên mảnh đất nền quê nhà. Đây đó là món quà đặc biệt quan trọng mà thiên nhiên đã ưu tiên khi ban tặng cho mảnh đất nền xứ Thanh. Vì thế suốt bao đời nay người dân Cầu Lộc vẫn luôn duy trì, bảo tồn và phất huy nghề đọc đáo của ông cha ta để lại với niềm tự hào riêng.

 

Mảnh đất Thanh Hóa “đất linh nhân kiệt” quyến rũ du khách bởi những sản vật và đồ thủ công mỹ nghệ đặc sắc. Nếu chưa từng dành nhiều thời gian để tán thưởng vẻ đẹp thiên nhiên, con người và sản vật nơi đây thì có thể Thanh Hóa sẽ trở thành điểm đến tiếp theo của bạn và gia đình đấy! Thanh Hóa muốn biển có biển, muốn núi có núi, muốn đặc sản tươi ngon và hấp dẫn đều sẵn sàng phục vụ bạn dù ở bất cứ nơi đâu, mời bạn ghé thăm gian hàng sản vật Thanh Hóa trên sàn Thương mại điện tử Voso: