Hà Tĩnh ai từng qua

Mong manh con đường dọc

Nặng nghĩa tình đất nước

Lưng còng bóng người thưa

(Hà Tĩnh quê mình – Anh Thơ)

Phải có lý do mà người Hà Tĩnh “đi đâu cũng nhớ về Hà Tĩnh”, nhớ da diết cái mảnh đất nhỏ bé mà nhìn từ bản đồ chỉ như một phiến đá gồ ghề. Phải một lần đặt chân tới mảnh đất của núi Hồng Lĩnh, của dòng sông La người ta mới có thể cảm nhận được nắng, gió và những vỉa tầng văn hóa mà “phiến đá” này đã và đang ẩn giấu suốt bao đời nay…

 

Hà Tĩnh – mảnh đất phong thổ đẹp nao lòng

Ngẫm ra trời đất sắp bày

Nhìn trong phong thổ xưa nay khác thường

(Bùi Dương Lịch)

Câu thơ của Bùi Xuân Lịch là sự khắc họa rõ nét nhất về thiên nhiên Hà Tĩnh. Bốn chữ “phong thổ khác thường” không chỉ nói về những khắc nghiệt của thiên nhiên, mà còn tôn vinh những cảnh đẹp đến nao lòng tại vùng đất này. Nếu trước đây, những phong cảnh đó là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca nhạc họa, thì giờ đây chúng trở thành điểm thu hút khách du lịch thập phương, với tiềm năng khai thác rất triển vọng.

Biển Thiên Cầm

Là tỉnh có đường bờ biển dài, Hà Tĩnh sở hữu nhiều bãi biển xinh đẹp làm say lòng người. Trong đó phải kể dến bãi biển Thiên Cầm với làn nước trong xanh, bãi cát trắng tĩnh lặng với vòng cung lên tới 3km, trông xa cả bãi biển như một chiếc đàn khổng lồ giữa khung cảnh núi non hữu tình.

Ngoài bãi Thiên Cầm, Hà Tĩnh cũng có rất nhiều các bãi tắm nên thơ với không khí ôn hòa khác như: biển Xuân Thành, biển Hoành Sơn…

 

Núi Hồng Lĩnh

Núi Hồng Lĩnh và dòng sông La êm đềm đã trở thành biểu tưởng của tỉnh Hà Tĩnh khi đi vào vô số các bài ca bất hủ. Ngọn núi thuộc xã Nghi Lộc, huyện Can Lộc, bao gồm hàng trăm ngọn núi nhỏ trùng điệp như ôm trọn lấy vùng đồng bằng bên dưới. Núi Hồng Lĩnh cũng có rất nhiều các khe suối và dòng nước ngầm, tuy nhỏ, nông nhưng quanh năm không hề cạn. Trải qua biết bao thăm trầm của lịch sử, núi Hồng Lĩnh cùng dòng sông La đã trở thành biểu tượng cho con người Hà Tĩnh tình cảm, thật thà mà dũng cảm, bất khuất.

 

Ngã ba Đồng Lộc

Nơi này đã đã được mệnh danh là “tọa độ chết”. Người ta đã thống kê rằng, mỗi mét vuông đất nơi đây đã gánh 3 quả bom tấn. Chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968, không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại. Ngã ba Đồng Lộc là một di tích lịch sử ghi dấu tuổi xuân vĩnh cửu của 10 cô gái thanh niên xung phong Đồng Lộc dũng cảm và đã trở thành huyền thoại trong lòng người dân đất Việt.

Chiến tranh qua đi, nhiều du khách vẫn tìm lại di tích lịch sử này để nghe lại những câu chuyện cảm động về chiến công của những người anh hùng năm xưa và tỏ lòng biết ơn đến tiểu đội các cô gái thanh niên xung phong đã hi sinh thân mình để bảo vệ hoà bình Tổ quốc.

 

Chùa Hương Tích

Khai thác hệ thống các di sản tâm linh này thành sản phẩm du lịch đang là một trong những bước đi thu được nhiều thành quả của du lịch Hà Tĩnh trong những năm gần đây. Ngoài ngã ba Đồng Lộc cũng như khu tưởng niệm các liệt sĩ thanh niên xung phong, một điểm du lịch tâm linh nổi tiếng khác tại Hà Tĩnh là chùa Hương Tích.

Nằm trên độ cao gần 700m so với mặt nước biển, chùa Hương Tích ẩn sau những làn sương khói huyền ảo, quanh năm mây che khói phủ. Để đến được ngôi chùa này, bạn sẽ được trải nghiệm chèo đò qua dòng sông xanh biếc và thưởng ngoạn phong cảnh sơn thủy hữu tình. Ngoài ra du khách cũng có thể lựa chọn lên chùa bằng cáp treo và chiêm ngưỡng thảm thiên nhiên bao la dưới chân…

 

Khu di tích Nguyễn Du, Trần Phú

Ít người biết Hà Tĩnh là quê hương của đại thi hào Nguyễn Du, do đó nơi đây có hẳn 1 khu di tích để tưởng niệm “cha đẻ” của Truyện Kiều với quần thể đền chùa, đình làng rộng lớn gắn với dòng họ của Nguyễn Du. Khu di tích nằm trên địa bàn xã Tiên Điền, bao gồm ban thờ nơi khách du lịch có thể thắp nén hương tưởng nhớ đại thi hào, và khu bảo tang chứa những kỷ vật và tài liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du.

Bên cạnh đó, du khách cũng có thể ghé thăm khu tưởng niệm của cố Tổng Bí thư Trần Phú. Đặc biệt, lăng mộ cố Tổng Bí thư nằm trên ngọn đồi Quần Hội thoáng đãng và được bao quanh bởi một hồ nước tự nhiên, trong một khuôn viên nhiều cây xanh mát.

‘Ngẩn ngơ’ với những sản vật Hà Tĩnh nổi tiếng

Hà Tĩnh không phải một “dòng sông êm đềm” như cái tên của nó, ngược lại, vùng đất này hứng chịu rất nhiều biến động của thời tiết, biến đổi khí hậu. Có lẽ vì thế mà sản vật nơi đây không nhiều nhưng lại giản dị mà đậm đà như đặc tính chân chất của con người nơi đây.

Đặc sản

Bánh đa vừng

Bánh đa là loại đồ ăn vặt rẻ tiền nhưng lại thật ngon và khó dứt nổi. Vùng nào, chợ nào, quán nào cũng có nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bánh đa Chợ Tỉnh, Chợ Cầy, Chợ Hội… Bánh đa ở những vùng này dầy, to, giòn và đặc biệt là có rất nhiều vừng đen, ăn vừa béo, thơm, vừa giòn, khi đói có thể ăn trừ cơm, chỉ thấy no mà không thấy chán.

Bánh đa ở Hà Tĩnh được làm hoàn toàn bằng gạo ngon, không pha thêm ngô, sắn như ở nhiều nơi khác. Thông thường khi làm bánh đa, nguời ta chọn loại gạo gié vụ mùa, vừa dẻo, vừa thơm, không dùng gạo xay từ các vụ lúa trước, năm trước vì lúa để lâu nên gạo mất chất.

Khách cầm bánh, bẻ từng miếng, chấm với nước mắm cốt pha chanh, ớt cay xè, có vài giọt cà cuống thì càng ngon tuyệt. Ở Hà Tĩnh người ta còn ăn bánh tráng xúc nham (gỏi) bắp chuối, hến xào…

 

Ram bánh mướt

Theo tiếng của người Hà Tĩnh, “Ram” là một từ dùng để chỉ món nem rán theo tiếng phổ thông, “Bánh Mướt’ là cách gọi khác của từ “bánh cuốn”, “bánh ướt”, … Bánh Mướt là một món ăn ưa dùng của người Hà Tĩnh. Đối với người miền Bắc, người ta thường cuốn Bánh Mướt với nhân thịt, khi tráng sẽ cho nhiều mỡ hơn. Tuy nhiên, đối với người Hà Tĩnh, nhân Bánh Mướt là chả hoặc canh gà, đồng thời, khi rán sẽ không cho mỡ mà để nguyên. Do đó, khi ăn Bánh Mướt Hà Tĩnh sẽ cảm nhận thấy vị mát lành và hết sức thanh đạm.

Khi ăn ta cuốn Bánh Mướt cùng Ram, chấm vào nước chấm tỏi ớt. Lúc đó bắt đầu cảm nhận được vị béo giòn của Ram, dẻo bùi của bánh và vị chua thanh của nước mắm ớt nơi đầu lưỡi, hương vị tuyệt vời miễn chê. Tuy không phải món ăn quá cao sang đắt đỏ, song món ram bánh mướt vẫn là niềm tự hào về ẩm thực của người Hà Tĩnh.

 

Bánh cu đơ

Nếu như Thái Bình có bánh cáy, Thanh Hóa có nem chua, Hải Dương với bánh đậu xanh nổi tiếng… thì khi đi qua Hà Tĩnh ta không thể không dừng chân mua một vài gói bánh cu đơ về làm quà.

Nghe cái tên có vẻ buồn cười, làm ai cũng phải tò mò nhưng hoá ra kẹo Cu Đơ là một món tương đối quen thuộc. Đây là loại kẹo đậu phộng hay kẹo lạc được nấu bằng công thức truyền thống qua nhiều đời. Sở dĩ có tên gọi như thế là vì cách đọc chạy từ tiếng Pháp “Cu Deux”, nghĩa là Cu Hai, người nghĩ ra món ăn này.

Thành phần chính của món bao gồm mật mía, mạch nha và gừng. Và đương nhiên cũng không thể thiếu đậu phộng rang, điều tạo nên hương vị chính cho món. Toàn là nguyên liệu dễ kiếm nhưng muốn có được một món ngon thì ắt hẳn phải có bí quyết riêng. Mật mía phải nguyên chất, không pha đường và tỉ lệ mạch nha pha cùng cũng nên đúng chuẩn để kẹo có hương vị cân bằng. Còn về đậu phộng thì phải chọn loại chắc hạt, rang vừa chín tới đến khi vàng giòn thì bóc vỏ thật sạch. Bánh đa kẹp cùng có độ dày vừa phải, rắc thêm lớp mè đen nữa là trọn vẹn hương vị.

 

Bún bò Đức Thọ

Một món ăn đặc sản Hà Tĩnh khác không thể bỏ lỡ đó là món bún bò. Nếu như bún Bò Huế mang hương vị dịu nhẹ của người cố đô, bún chả cá Nha Trang mang vị đậm đà của người đi biển thì bún Đức Thọ – Hà Tĩnh lại mang trong mình dư vị đậm đà như phẩm chất của con người nơi đây.

Đối với bún bò Đức Thọ, một tô bún ngon thì sợi bún phải được làm ra từ gạo của người Đức Thọ, sợi bún phải to, tròn và có màu hoa cau mới được đánh giá là đạt tiêu chuẩn. Không chỉ thể, thịt bò cũng phải được lấy từ một con bò được chăn thả trên vùng ven đê, có như thế thì thịt bò mới mềm và ngọt. Nước dùng của bún bò Đức Thọ được hầm từ xương ống và đuôi bò. Ngoài ra, để có một tô bún thơm, người ta còn dùng thêm các gia vị, rau thơm khác.

Nếu một lần ghé Hà Tĩnh, hãy một lần nếm thử sự hòa quyện hương vị của hành lá, lá mùi tàu, nước mắm ớt, tỏi dầm, tiêu, chanh và đặc biệt là thịt bò dày và mềm.

 

Trái cây

Cam bù Hương Sơn

Giống cam đặc biệt có nguồn gốc từ Hương Sơn, Hà Tĩnh có giá trị dinh dưỡng và kinh tế rất cao, vào loại bậc nhất trong dòng cam bưởi tại miền Trung. Giống cam này trồng ít nhất mất 4 năm mới cho quả, chiều cao khoảng 2 m, cho chừng 100 quả, có cây gần 200 quả.

Đây là giống cam đã có từ rất lâu đời. Cho đến nay. cam bù Hà Tĩnh được coi là một trong những loại cây cần được duy trì, phát triển và bảo tồn. Với ưu điểm mọng nước, vị ngọt thanh và thơm, nhiều năm qua trở thành đặc sản quý của người dân Hương Sơn (Hà Tĩnh), thường được đem làm quà biếu.

 

Hồng Đông Lộ và hồng Tiến

Hồng Đông Lộ là giống hồng vuông có màu xanh cam hoặc vàng, ruột có màu vàng, khi chín ăn rất ngọt và thơm. Còn loại hồng Tiến Nghi Xuân là loại hồng này xưa thường dùng để cung tiến vua ngày xưa nên được gọi là hồng tiến, loại hồng này khi chín có màu sẫm trông rất đẹp mắt, mọng và vỏ rất mỏng dân địa phương nơi đây còn gọi là hồng trứng, ăn loại hồng này thì rất mềm ngọt mát và thơm.

Đến với Hà Tĩnh du khách mà được thưởng thức, được nếm thử hai loại hồng này thì sẽ thấy trong người sảng khoái và khỏe hẳn lên. Sẽ chẳng có gì bằng nếu được ngồi trên chõng tre ngay dưới tán cây hồng và được nhấm nháp, ăn những quả hồng ngon ngọt này và còn được nghe những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian về nguồn gốc và xuất xứ của những loại hồng này và về những cây tổ hồng và vì sao hồng được chọn làm loại quả để tiến vua và được nghe những điệu hò, hát giặm, nghe những câu hát ca trù Cổ Đạm, hát ví giận mà thương,…

 

Bưởi Phúc Trạch

Trong 24 xã của huyện Hương Khê, bưởi Phúc Trạch được trồng nhiều ở Phúc Trạch, Hương Trạch, Lộc Yên… Mỗi gia đình thường trồng từ 5 đến vài chục gốc. Bưởi Phúc Trạch có vị ngọt, mùi thơm đặc trưng, các tép bưởi giòn tan, mọng nước, ăn vào miệng sẽ có cảm giác chua chua, thanh thanh. Người dân Hà Tĩnh luôn xem bưởi Phúc Trạch là đặc sản quý, khi đi xa họ thường mua làm quà biếu.

Mùa thu hoạch bưởi Phúc Trạch bắt đầu từ giữa tháng 7 tới hết tháng 8 âm lịch.

Hải sản

Mực nhảy Vũng Áng

Cách thành phố Hà Tĩnh 50km về hướng Đông Nam, cảng Vũng Áng (huyện Kỳ Anh) từ lâu đã trở thành điểm dừng chân đối với nhiều du khách trong nước trên chặng hành trình du lịch qua miền Trung. Điều đặc biệt khiến du khách chọn đây làm điểm dừng chân bởi món mực “nhảy” tươi rói được thiên nhiên ưu đãi tại đây.

Mực “nhảy” được thợ câu trong đêm, thả vào khoang thuyền trữ nước biển rồi đem về bán cho các chủ nhà hàng. Có nhiều cách chế biến mực “nhảy”. Nhưng ưa chuộng nhất vẫn là  món mực hấp nguyên con chấm với mù tạt hoặc nước mắm gừng, kẹp lá lốt. Ngoài ra còn có món gỏi mực được trần qua nước chanh, chấm nước mắm. Món này không có vị tanh, trái lại có vị ngọt, dai, mát. Hiện, cảng Vũng Áng có hơn 20 bè nổi chuyên kinh doanh mực “nhảy”. Trong những ngày này, nhà bè nào cũng trong tình trạng chật kín. Thậm chí nhiều khách quen còn cẩn thận đặt chỗ trước vài ngày.

 

Hến Sông La

Hến sông La từ lâu đã trở thành nỗi nhớ của mỗi người dân Đức Thọ, Hà Tĩnh xa quê, là món ngon ít khi thiếu vắng trên các bàn tiệc đãi khách của người dân xứ này. Hến nơi đây có nổi tiếng thơm ngon, vị đậm đà nên người làng Bến Hến có câu ca rằng: “Hến ngọt, rọt nậy, đong đầy, bán rẻ ai mua”.

Ở vùng sông La, hến có hai loại màu đặc trưng là màu vàng sáng và đen xạm. Hến có màu vàng sáng là do sống ở khu vực đáy sông nhiều cát; còn loại vỏ đen xạm là sống ở khu vực nhiều sình bùn. Hến sau khi đưa về bến sẽ trải qua khâu làm sạch rác và tiếp tục ngâm khoảng 8-10 tiếng để nhả sạch nhớt bẩn.

Hến là sản vật dân dã, mang đến những món các món ăn đơn giản nhưng đậm đà hương vị. Chỉ cần dùng nước hến nấu với rau mùng tơi, rau bầu đất… sẵn trong vườn nhà và nêm chút muối gia vị là bạn đã có món canh thơm, ngọt nước. Thịt hến có thể dùng xào nhút mít (mít non muối chua), xào gừng lá răm; xào hành hoặc chế biến thành các món cơm hến, bún hến, cháo hến… hay đơn giản là ăn cùng với bánh đa vừng.

 

Làng nghề thủ công

Làng rèn Trung Lương

Mặc dù có phần hụt hơi khi cạnh tranh với các sản phẩm công nghiệp, nhưng làng nghề rèn truyền thống hàng trăm năm năm tuổi Trung Lương ở Hà Tĩnh vẫn chưa bao giờ tắt lửa. Nghề rèn đã tồn tại và trở thành kế sinh nhai của người dân nơi đây từ hàng trăm năm trước, và được đời đời con cháu kế nghiệp đến tận bây giờ.

Nghề rèn đòi hỏi người thợ phải có sức khỏe dẻo dai và chịu được cái nóng của lửa, bụi bặm. Đặc biệt, khói của than đá rất độc nên người thợ thường hay mắc các chứng bệnh về hô hấp. Dù vậy, nhờ gắn bó với nghề mà người dân đủ ăn, đủ mặc và có tiền nuôi con cái ăn học. Vì là nghề cha truyền con nối, mỗi nhà lại có một bí quyết rèn riêng, do đó phù hợp để làm một loại dụng cụ cụ thể như cuốc, liềm, dao… không nhà nào giống nhà nào.

Giống như nhiều làng nghề truyền thống khác, làng rèn Trung Lương cũng đang đối mặt với tương lai khá “u ám” khi chỉ còn trên dưới 1/3 số hộ còn bám nghiệp và rất hiếm người trẻ còn theo nghề. Các sản phẩm của làng cũng khó cạnh tranh với các loại sản phẩm công nghiệp đa dạng về mẫu mã và kiểu dáng, giá thành lại rẻ hơn. Trước những khó khăn này, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã có nhiều chính sách kích cầu nổi bật như: Giúp đỡ trong việc đào tạo nghề và tham quan học tập, áp dụng khoa học kỹ thuật, máy móc vào tổ chức sản xuất; cho vay vốn với chính sách ưu đãi giúp bà con mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm thiết bị…

 

Làng mộc Thái Yên

Nghề mộc truyền thống Thái Yên (Đức Thọ – Hà Tĩnh) đã tồn tại cách đây 300 trăm năm, nhiều thế hệ hình thành và phát triển với bao thăng trầm của lịch sử đã tạo nên tiếng vang danh bất hư truyền cho vùng đất nơi đây. Với đôi bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và trái tim tâm huyết, những người nghệ nhân tài hoa đã biến hoá những khúc gỗ đơn thuần thành những sản phẩm điêu khắc điệu nghệ, điển hình như Cửu Ngại, ông Hồng, Võ Em được tôn vinh là các bậc kì tài về chạm trổ “Long, Ly, Quy, Phượng” tại các đình, chùa, lăng, tẩm được triều đình Huế trọng dụng từ những năm đầu thế kỷ XIX.

Đến nay, làng nghề đã có hơn 1.000 cơ sở chuyên sản xuất, kinh doanh các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ thô và đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp, cung cấp sản phẩm rộng khắp thị trường cả nước và tạo việc làm cho hàng ngàn lao động có thu nhập ổn định.

 

Làng chiếu cói Nam Sơn

Dưới chân núi Nghèn ở thị trấn Can Lộc có một ngôi làng theo nghề dệt chiếu đã hàng trăm năm qua: Làng chiếu cói Nam Sơn. Từ lâu, chiếu cói Nam Sơn không chỉ được tiêu thụ ở địa bàn tỉnh Hà Tĩnh mà còn sang các tỉnh bạn. Vào thời được coi là “hoàng kim” cách đây hơn 20 năm, thương lái đã đưa sản phẩm chiếu cói Nam Sơn đi khắp nơi, phía nam vào tận chợ Lao Bảo (Quảng Trị), chợ Ba Đồn (Huế), ra tận các tỉnh phía bắc ra tới Nghệ An, Thanh Hóa tiêu thụ.

Chiếu Nam Sơn tuy chỉ có vài loại hoa văn chủ yếu như chữ, hoa, chim, và sọc nhưng được ưu chuộng bởi độ bền màu, bền sợi, êm thoáng của tấm chiếu. Chiếu Nam Sơn qua các công đoạn tỉ mỉ từ nhuộm sợi cói, in dập hoa văn đến dùng lưu huỳnh hong chiếu, độ bền có thể lên tới 15 năm.

 

Kết

Hà Tĩnh nói biển có biển, nói núi có núi. Bão lửa mưa giông chiến tranh hay sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng không vùi dập được ý chí và tinh thần con người nơi đây, và sự quật cường đó cũng như được gửi gắm vào những món ăn, sản vật đặc thù địa phương. Hà Tĩnh mang vẻ bình dị mà khó quên trong lòng khách du lịch, khiến cho bất cứ ai đã từng tới đây sẽ không thể quên được dòng nước trong xanh của biển Thiên Cầm, cảm giác tự hào khi đứng tại ngã ba Đồng Lộc hay khi thỏa mãn vị giác với những bún bò Đức Thọ, mực nhảy hấp dẫn của tỉnh. Nếu không có cơ hội tự mình đặt chân tới thăm Hà Tĩnh, bạn ngại gì mà không thử ghé thăm gian hàng đặc sản địa phương trên sàn thương mại điện tử Voso để thưởng thức hương vị Hà Tĩnh ngay tại nhà mình?